• NBCN

Nghĩa Vụ của VN khi là Thành Viên của Tổ Chức Lao Động Thế Giới (ILO)

Updated: Nov 26, 2019




VN là quốc gia thành viên của Tổ Chức Lao Động Thế Giới (ILO) từ năm 1992.


Trong Tuyên Bố 1998 của ILO có 2 điều khoản quan trọng về cam kết:

  1. Điều 1a: Tất cả các quốc gia thành viên đã thừa nhận các nguyên tắc và quyền trong Hiến chương của ILO trong Tuyên Bố Philadelphia; và đã cam kết hành động nhằm đạt được các mục tiêu tổng thể của Tổ chức bằng mọi nguồn lực và hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình.

  2. Điều 2: Đã khẳng định là các quốc gia thành viên ILO, dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn 8 công ước cơ bản đều có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện tám công ước cơ bản này một cách thiện chí.

Như vậy, theo Điều 2 của Tuyên bố năm 1998, thì ngoài việc phải thực hiện đầy đủ nội dung của 6 công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn, thì Việt Nam, với tư cách là quốc gia thành viên của ILO, có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện một cách thiện chí 2 công ước cơ bản còn lại của ILO mà Việt Nam chưa phê chuẩn (tính đến 2019) là :

  1. 1. Công ước số 87 về Tự do Liên kết và Bảo vệ Quyền Tổ chức

  2. 2. Công ước số 105 về Xóa bỏ Lao động Cưỡng bức.


Công Ước 87 và Công Ước 105 có thể coi là quan trọng nhất trong 8 công ước đối với hiện tình VN liên quan đến các Nguyên tắc và Quyền Cơ bản trong Lao động.


Công Ước 87 : Tự do Liên kết và Bảo vệ Quyền Tổ chức

  • Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó. (Điều 2)

  • Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo chương trình hoạt động của mình. (Điều 3.1)

  • Các cơ quan có thẩm quyền phải tránh mọi sự can thiệp có tính chất hạn chế quyền đó (Tự do Liên Kết và Bảo vệ Quyền Tổ Chức), hoặc cản trở việc thi hành hợp pháp quyền đó. (Điều 3.2)

  • Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ hoạt động. (Điều 4)

  • Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền tập họp thành các liên đoàn, tổng liên đoàn; và mọi tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn đó đều có quyền gia nhập và đều có quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của người lao động và người sử dụng lao động. (Điều 5)

  • Pháp luật quốc gia không được có những quy định mang tính chất xâm hại, cũng như không được áp dụng với mục đích xâm hại tới những đảm bảo đã được quy định trong Công Ước này. (Điều 8.2)

  • Mọi quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế mà tại đó Công Ước này có hiệu lực phải cam kết áp dụng mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo đảm cho người lao động và người sử dụng lao động được tự do thi hành quyền tổ chức. (Điều 11)

Công Ước 105 : Xóa bỏ Lao động Cưỡng bức.

  • Mọi quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế phê chuẩn Công Ước này phải cam kết bãi bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, và cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của loại lao động đó:

  1. như là một biện pháp cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc như một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc đang phát biểu chính kiến, hay ý kiến phản biện về tư tưởng đối với trật tự chính trị, xã hội, hoặc kinh tế đã được thiết lập;

  2. như là một sự trừng phạt đối với việc đã tham gia đình công;

  3. như là một biện pháp phân biệt đối xử về chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo. (Điều 1)

  • Mọi quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế đã phê chuẩn Công Ước này cam kết sử dụng các biện pháp có hiệu quả nhằm xóa bỏ ngay và toàn bộ lao động cưỡng bức hay bắt buộc, như đã quy định tại Điều 1, Công Ước này. (Điều 2)