• NBCN

Nội dung cơ bản về Lao Động trong CPTPP


Những hiệp ước thương mại thế hệ mới đều chú trọng đến Lao Động, vì VN phải thực thi với những điều khoản trong CPTPP và ILO, thông qua nghiệp đoàn độc lập, sẽ mở ra nhiều cơ hội mới trong tiến trình đổi mới, dân chủ hóa VN.

Trong CPTPP có những cam kết chung (Đa Phương) giữa 11 quốc gia thành viên và cam kết riêng (Song Phương) giữa những quốc gia thành viên.


Đối với vấn đề lao động, có một số nét giống và khác nhau giữa cam kết trong CPTPP và TPP như sau:

  1. Cam kết về lao động của Việt Nam trong cả hai hiệp định đều bao gồm cam kết chung trong Chương 19 – Chương Lao động.

  2. Sự khác nhau nằm ở cam kết riêng, trong TPP là bao gồm cam kết song phương với phía Mỹ còn trong CPTPP là Thư trao đổi song phương với 10 nước còn lại.

1/ Đối với cam kết chung trong Chương 19 – Lao động, các nước, trong đó có Việt Nam phải nội luật hóa và đảm bảo triển khai trong thực tiễn những quy định về 4 quyền lao động cơ bản trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, bao gồm:

  1. Tự do liên kết và thương lượng tập thể;

  2. Xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc;

  3. Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; và

  4. Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.

Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng cần quy định trong luật pháp và thực hiện trong thực tiễn những quy định về điều kiện làm việc có thể chấp nhận được, bao gồm lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn sức khỏe nghề nghiệp.


2/ Đối với cam kết riêng trong Chương 19 . Cam kết riêng của Việt Nam được thể hiện trong thư trao đổi của Việt Nam với 10 nước đối tác gồm 4 đoạn như sau:

  1. Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong Chương Lao động kể từ ngày CPTPP có hiệu lực với VN;

  2. Nếu VN vi phạm các cam kết trong Chương Lao động thì các nước sẽ không áp dụng trừng phạt thương mại đối với Việt Nam trong vòng 3 năm đầu kể từ ngày CPTPP có hiệu lực;

  3. Nếu VN vi phạm cam kết về tự do liên kết và thương lượng tâp thể (Công Ước 87 và 98) thì các nước sẽ không áp dụng trừng phạt thương mại trong thời gian 5 năm đầu kể từ ngày CPTPP có hiệu lực;

  4. Trong khoảng thời gian từ khi CPTPP có hiệu lực 5 năm đến trước khi CPTPP có hiệu lực 7 năm đầu, các vấn đề liên quan tới vi phạm của Việt Nam (nếu có) về tự do liên kết sẽ được các bên rà soát trong khuôn khổ Hội đồng Lao động theo điều 19.12.

Để có thể thực thi Chương Lao động, các quốc gia thành viên cần thực hiện một số sắp xếp về bộ máy như sau:

  1. Đầu Mối Liên Lạc cấp quốc gia là một đơn vị hoặc một cán bộ trong Bộ Lao động của mỗi nước để giải quyết các vấn đề liên quan đến Chương Lao động trong vòng 90 ngày kể từ ngày CPTPP có hiệu lực với nước đó.

  2. Đầu mối liên lạc có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin, trao đổi với Đầu mối của nước khác; hỗ trợ Hội Đồng Lao động , tiếp nhận thông tin, đơn thư từ công chúng và thực hiện hợp tác song phương hoặc đa phương.

  3. Hội Đồng Lao Động gồm đại diện cấp Bộ hoặc cấp Cục/Vụ thay mặt cho Bộ của các nước thành viên. Hội đồng họp ngay trong vòng 1 năm kể từ khi CPTPP có hiệu lực và sau đó là 2 năm/lần. Hội đồng có nhiệm vụ:

  • rà soát, đánh giá việc thực hiện Chương Lao động;

  • rà soát báo cáo từ đầu mối liên lạc của các nước;

  • tạo điều kiện cho sự tham gia của công chúng và quyết định các vấn đề khác theo thỏa thuận của các bên.

  • quyết định của hội đồng được đưa ra theo nguyên tắc đồng thuận.

Liên quan đến cơ chế thực thi Chương Lao động trong CPTPP, các vấn đề phát sinh có thể được xử lý qua 3 kênh:

  1. Đơn thư của công chúng

  2. Đối thoại mang tính hợp tác và

  3. Tham vấn.

Trong đó, cá nhân hoặc tổ chức có thể gửi đơn thư tới đầu mối liên lạc do các nước thành viên chỉ định. Điều kiện đối với đơn thư là vấn đề phát sinh liên quan trực tiếp đến Chương Lao động, không nặc danh, và giải thích được sự ảnh hưởng của vấn đề nêu trong đơn thư đối với thương mại và đầu tư giữa các bên.


Các bước xử lý bất đồng:

  1. Nơi tiếp nhận đơn thư có thể trao đổi, làm rõ thông tin và phải thụ lý, trả lời bằng văn bản cho bên đệ đơn.

  2. Cơ chế đối thoại mang tính hợp tác có thể do một bên đề xuất bất cứ lúc nào và bất cứ vấn đề gì liên quan đến Chương Lao động và đối thoại sẽ tiến hành trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.

  3. Cơ chế tham vấn là bước tiếp theo sẽ được tiến hành trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn và các bên có thể sử dụng tư vấn, chuyên gia độc lập, thủ tục giảng hòa, hòa giải hoặc trung gian,

  4. Bước cuối cùng là cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp định và bước này có thể dẫn đến đình chỉ ưu đãi thương mại hay trừng phạt thương mại.

http://quanhelaodong.gov.vn/viet-nam-phai-lam-gi-khi-tham-gia-cptpp-doi-voi-van-de-lao-dong


3/ Ý nghĩa của vấn đề lao động trong CP TPP đối với Việt Nam:


Ngày 13/03/2018, ông Ngọ Duy Hiểu, Trưởng Ban quan hệ lao động, Phó Chủ Tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát biểu: “Hiệp định CPTPP là một hiệp định tự do tiêu chuẩn cao. Trong các vấn đề về lao động công đoàn có nổi lên một vấn đề lớn, đó là việc được phép thành lập tổ chức đại diện khác của người lao động bên cạnh công đoàn Việt Nam (TLĐLĐVN), cũng như việc thực hiện quyền liên kết của các tổ chức này trong thời gian nhất định...


Cụ thể là trong thời gian 5 năm và 7 năm sau khi CPTPP có hiệu lực, đối với tổ chức công đoàn, chúng tôi xác định đây là thách thức lớn đặt ra những vấn đề trong tương lai không xa, đó là ở cấp cơ sở sẽ xuất hiện tổ chức đại diện khác của người lao động hay còn gọi là đa công đoàn".


Công đoàn Việt Nam (TLĐLĐVN), khi đó không còn là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động, vấn đề cạnh tranh và thu hút mới đoàn viên công đoàn là điều tất yếu sẽ xảy ra. Việc phát triển đoàn viên và công đoàn cơ sở sẽ gặp khó khăn. Nguồn lực đảm bảo cho hoạt động công đoàn nhất là nguồn lực tài chính sẽ bị chia sẻ và giảm sút. Môi trường hoạt động công đoàn cũng sẽ có thay đổi lớn do quan hệ lao động sẽ có những diễn biến phức tạp".