• NBCN

Doanh nghiệp xuất khẩu gỗ ghép thanh “ngủ đông”


Nhiều DN gỗ ghép thanh đang rơi vào tình trạng tồn kho tăng cao, khó quay vòng vốn. Ảnh: N.Thanh

Do thị trường xuất cảng đồ gỗ khó khăn, từ đầu năm đến nay, tiêu thụ gỗ ghép thanh rơi vào tình trạng điêu đứng, tồn kho. Nhiều DN xuất cảng gỗ ghép thanh lựa chọn tình trạng cầm cự, “ngủ đông” qua giai đoạn khó khăn, kỳ vọng thị trường khởi sắc.


Giảm trên 50% đơn hàng

Tiếp xúc, lắng nghe câu chuyện của nhiều DN xuất cảng gỗ ghép thanh trong những ngày gần đây, phóng viên ghi nhận sự buồn bã, ảm đạm. Bà Nguyễn Hoàng Lý, Giám đốc Công ty TNHH Mộc Quyết Thắng (ở khu phố 8, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) chia sẻ: Thị trường gỗ ghép thanh ổn định trong vòng 10 năm trở lại đây. Đáng chú ý, thời điểm dịch Covid-19, thị trường gỗ ghép thanh phát triển rất tốt, có thời điểm sản xuất không kịp để bán, không có tình trạng tồn nguyên liệu trong kho.

Tuy nhiên, 8 tháng trở lại đây, lượng tiêu thụ gỗ ghép thanh giảm sút nghiêm trọng. Đơn hàng của DN đã giảm trên 50%, uất cảng nhỏ giọt. Những đơn hàng còn tồn mà khách hàng đã đặt trước đó, đối tác cũng giãn, hoãn giao hàng. Đầu ra của gỗ ghép thanh là làm hàng bàn, ghế, tủ, giường xuất đi Hoa Kỳ, EU. Kinh tế suy thoái tại các thị trường này khiến “tắc” đầu ra, không có đơn hàng uất cảng.

“DN rơi vào tình trạng quay vòng nguồn vốn khó khăn.

Trong bối cảnh lãi suất tăng cao, DN đang phải đối mặt với khó khăn cả về tài chính, đơn hàng cũng như thị trường.

DN hiện đang cố gắng cầm cự từ những đơn hàng sản xuất, uất cảng nhỏ nhằm duy trì hoạt động, giữ chân công nhân”, bà Lý nói.

Tại Công ty TNHH sản xuất, xuất nhập cảng Lâm sản Hải Oanh (thôn Yên Thái, xã Tế Lợi, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa), nhiều chồng gỗ ghép thanh cũng nằm im lìm, nối nhau san sát từ ngoài đường vào nhà xưởng. DN này đang phải chịu sức ép rất lớn khi tồn khoảng 1.400 m3 gỗ ghép thanh, tương đương đọng vốn khoảng 20 tỷ đồng.

Ông Đỗ Văn Hải, Giám đốc Công ty TNHH sản xuất, xuất nhập khẩu Lâm sản Hải Oanh cho biết: DN có hai mảng kinh doanh là gỗ ghép thanh và dăm gỗ. DN gia nhập thị trường gỗ ghép thanh vào năm 2018, khi thị trường đang có nhu cầu lớn. Thị trường đắt khách lại là lúc DN còn nhiều bỡ ngỡ. Bước sang năm 2020, 2021 thị trường vẫn còn túc tắc đơn hàng do nhu cầu sản xuất, chế biến mặt hàng đồ gỗ nội thất và gỗ ngoài trời xuất cảng tăng cao. Tuy nhiên, bắt đầu từ quý 1/2022 DN không bán được nữa. Hàng hóa không bán được song DN vẫn phải trả lãi vay và nhiều khoản chi phí khác. Công ty đã phải cắt giảm 80% lao động từ thời điểm hết quý 1/2022.

Ông Đỗ Văn Hải cho biết thêm: Chúng tôi sản xuất và bán cho công ty thương mại trong TPHCM, Bình Dương. Tại đây, họ có các nhà máy sản xuất chế biến sâu về tủ quần áo, đồ gỗ xuất cảng sang thị trường Hoa Kỳ, EU. Tuy nhiên, lạm phát cao, kinh tế suy thoái tại các quốc gia này khiến phần đông người dân tại các thị trường ưu tiên tiêu dùng lương thực, thực phẩm, có xu hướng giảm chi tiêu vào những mặt hàng xa xỉ. Đồ gỗ được coi là mặt hàng không thiết yếu, dẫn tới rất khó tiêu thụ. Do không xuất cảng sản phẩm được nữa, các nhà máy chế biến đồ gỗ ngừng mua gỗ nguyên liệu.

Cầm cự chờ thị trường “ấm” lên

Để tháo gỡ phần nào khó khăn, các DN gỗ ghép thanh đã phải lựa chọn phương án hạ giá sản phẩm. Trước đây, giá bán gỗ ghép thanh khoảng 12 triệu đồng/m3 (năm 2021), nhưng nay nhiều DN chào bán tại thị trường với mức giá chỉ 8-9 triệu đồng/m3. Đây là mức giá dưới giá thành sản xuất. Tuy nhiên, dù chấp nhận bán lỗ để thu hồi vốn, các DN cũng không bán được hàng. Bản chất câu chuyện không phải là giá cả mà do không có thị trường đầu ra.

Ông Đỗ Văn Hải phân tích: “Nếu thị trường gỗ nguyên liệu ‘ấm’ lên, phải mất 6 - 8 tháng sau DN mới giải quyết hết hàng tồn, khi đó hoạt động sản xuất mới khôi phục về trạng thái bình thường. Tuy nhiên, nếu tình trạng ‘đóng băng’ của ngành sản xuất đồ gỗ kéo dài, nguy cơ công ty sẽ không thể cầm cự được. Hiện tại ở Thanh Hóa đã có một số nhà máy chuyên sản xuất gỗ ghép thanh lâm vào tình thế phá sản phải rao bán nhà máy”.

Trong bối cảnh hiện tại, nhiều DN gỗ ghép thanh lựa chọn phương thức "ngủ đông" để đợi thị trường “ấm” dần. Sự chờ đời này đến khi nào và trong bao lâu tùy thuộc vào nguồn lực của mỗi DN. “Hầu hết DN đều đang gặp khó khăn. Công ty đang cố gắng duy trì hoạt động khoảng 50%. Tiền hàng về nhỏ giọt và chậm, DN duy trì trả lãi ngân hàng và lương công nhân”, bà Nguyễn Hoàng Lý cho biết thêm.

Thông thường, sản xuất gỗ ghép thanh cho lợi nhuận cao gấp đôi so với làm dăm gỗ. Tuy nhiên, năm nay tình thế diễn biến có phần bất thường khi gỗ ghép thanh ế ẩm, trong khi từ đầu năm đến nay dăm gỗ lại đắt khách, được giá.

Khi phóng viên đặt vấn đề, DN gỗ ghép thanh có tính đến phương án dần chuyển đổi mặt hàng kinh doanh từ gỗ ghép thanh sang dăm gỗ hay không, không ít DN bày tỏ thái độ khá băn khoăn. Bà Nguyễn Hoàng Lý bộc bạch: “DN vốn chuyên làm mảng cung cấp gỗ nguyên liệu nên việc chuyển sang định hướng mới cũng khó khăn”. Bên cạnh đó, hiện tại ngành dăm gỗ đang "hot" nhưng các DN gỗ ghép thanh rất băn khoăn, liệu một vài năm nữa ngành dăm gỗ còn phát triển tốt như hiện tại hay không? DN chuyển hướng kinh doanh tại thời điểm hiện nay còn kịp để hưởng lợi từ thị trường dăm gỗ “nóng” lên hay không?