DỊCH CÚM VŨ HÁN TOÀN CẦU VÀ CÔNG NHÂN VIỆT NAM (Phần 1)


Anh Nguyễn Văn Trí nói : "Kể từ khi chúng tôi đến đây (Serbia), không có gì là tốt cả. Mọi thứ đều khác với hợp đồng mà chúng tôi đã ký ở Việt Nam. Đời sống quá tệ, thức ăn, thuốc men, nước uống… cái gì cũng tệ".

. Đan Tâm

03/01/2022


Kinh Tế Chính Trị là một lĩnh vực đòi hỏi sự nghiêm túc, đạo đức và trong sáng ở mức cao nhất. Khôi phục lại nền kinh tế và thích ứng với tình hình dịch bệnh là một thách thức rất lớn đối với Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh bộ Y Tế CSVN vừa thông báo hôm 12/12/2021, là có thêm 14,638 ca nhiễm COVID-19 trong ngày, nâng tổng số lên hơn 1.4 triệu người Việt đã nhiễm Covid-19 và 28.000 người đã chết.


Chúng ta sẽ sớm thấy những quyết định cực đoan, thiếu khoa học và thiếu tình người của chính quyền Cộng Sản trong việc đối phó với đại dịch cúm Vũ Hán-2019. Những quyết định đó đang gây ra đau khổ và khó khăn kinh tế cho hàng triệu người dân nghèo vốn đã lao đao vì đại dịch.


Trong số đó có đến 65 triệu công nhân lao động phải đối diện với đời sống khó khăn suốt 2 năm đại dịch cúm Vũ Hán 2020 & 2021. Khi hàng triệu người lao động từ các khu công nghiệp lớn như Sài Gòn-Đồng Nai-Bình Dương bỏ chạy về quê lánh nạn phong tỏa thì lập tức nền kinh tế bị suy thoái gây ra tương lai ảm đạm và có nguy cơ khủng hoảng kinh tế (depression), bên cạnh những mâu thuẫn lâu nay được che lấp bằng hào quang của sự phát triển ăn xổi ở thì như tình trạng nghèo đói kinh niên của đại bộ phận dân chúng, bất bình đẳng xã hội, nông dân ly hương và hồi hương.


Công nhân bỏ chạy khỏi nơi làm việc thì chuỗi cung ứng tại Việt Nam bị gián đoạn và một số nhà cung ứng của công ty phải tạm đóng cửa để phòng chống sự lây lan của dịch COVID-19. Nhưng mới nhất là việc bỏ rơi thành phần lao động VN xuất khẩu tại Serbia (Đông Âu) cho thấy đảng và nhà nước CSVN không hề xem trọng lợi ích của người lao động VN – vốn là thành phần chính đem lại một ngân sách quốc gia lớn lao cho chính phủ chi tiêu thỏa thích.


Thật vậy, hãng tin AP đã đến thăm công trường xây dựng ở miền Bắc Serbia, nơi đang có 500 công nhân sống trong điều kiện khắc nghiệt khi Công ty lốp xe Shandong Linglong của Trung Quốc dùng công nhân VN xuất khẩu để xây dựng một cơ sở sản xuất khổng lồ tại Serbia. Đến ngày 20/11/2021, hãng tin AP cho biết 500 công nhân Việt Nam này đang kêu cứu và mô tả chi tiết tình hình của tập thể công nhân Việt Nam đang lâm vào đường cùng tại một nơi xa lạ.


Họ là những công nhân xuất khẩu của Việt Nam do môi giới từ những công ty xuất khẩu lao động trong nước ký hợp đồng với Công ty sản xuất vỏ xe Shandong Linglong Tire Co. của Trung Quốc sang Serbia làm việc từ tháng 5 năm 2021 trong điều kiện sinh hoạt như sau: Nhiệt độ -2°C (1), không máy sưởi, không nước nóng, không giường nệm, chân đi dép lê, đó là điều kiện sống mà hơn 500 công nhân Việt Nam tại công trường nhà máy lốp xe của công ty Ling Long Duo, Trung Quốc đang phải trải qua ở thành phố Zrenjanin, nước Serbia ở Âu Châu.


Họ đang run rẩy trong trại không có máy sưởi, bị đói và không có tiền. Họ nói rằng hộ chiếu của họ đã bị chủ người Trung Quốc lấy đi và hiện họ đang bị mắc kẹt tại một vùng đồng bằng ở Serbia mà không nhận được sự giúp đỡ nào của chính quyền địa phương cũng như sứ quán CSVN tại Serbia. Các quan chức của Đảng cộng sản Việt Nam, khi cần, sẽ gọi người Việt là những người con thân yêu của tổ quốc. Vậy hãy xem Đảng đã làm gì khi thấy những người lao động thân yêu thuộc giai cấp vô sản của Đảng đang lâm vào hoàn cảnh như thế này.


Giờ đây, nơi này đã thu hút sự chú ý của các nhóm nhân quyền ở Serbia. Những nhóm này đã cảnh báo rằng người lao động có thể là nạn nhân của nạn buôn người hoặc thậm chí là nô lệ. Nhà hoạt động cho quyền lao động người Serbia là Miso Zivanov thuộc tổ chức phi chính phủ Zrenjaninska Akcija (Hành động Zrenjanin) nói với Associated Press tại nhà kho một tầng nhếch nhác nơi công nhân Việt Nam đang sống như sau: "Chúng tôi chứng kiến sự vi phạm nhân quyền vì người lao động Việt Nam phải làm việc trong điều kiện tồi tệ".


Một trong những công nhân, anh Nguyễn Văn Trí, cho biết chưa có điều gì thỏa mãn với hợp đồng làm việc anh đã ký tại Việt Nam trước khi lên đường sang Serbia. Anh nói: "Kể từ khi chúng tôi đến đây, không có gì là tốt cả. Mọi thứ đều khác với hợp đồng mà chúng tôi đã ký ở Việt Nam. Đời sống quá tệ, thức ăn, thuốc men, nước uống… cái gì cũng tệ". Chân mang dép và run rẩy vì lạnh, anh cho biết khoảng 100 công nhân cùng doanh trại đã đình công để phản đối và một số đã bị sa thải.

"Ông Zivanov cho biết : Hộ chiếu và giấy tờ tùy thân của họ đã bị chủ lao động Trung Quốc lấy mất. Họ đã ở đây từ tháng 5/2021, và chỉ nhận lương được một lần. Họ đang tìm cách về Việt Nam nhưng trước tiên cần lấy lại giấy tờ đã".


Người lao động phải ngủ trên giường tầng không có đệm trong doanh trại không có máy sưởi hoặc nước ấm. Họ nói với AP rằng họ không được chăm sóc y tế ngay cả khi họ có các triệu chứng giống Covid-19, người quản lý yêu cầu họ chỉ cần ở yên trong phòng.


(https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/laborers-bear-brunt-of-dolap-wrongdoing-12242020170803.html and

https://apnews.com/article/serbia-chinese-factory-vietnamese-workers-harsh-conditions-67431ad5f51b553357911dea24c70359).


Trở về quốc nội thì tình trạng nghèo đói kinh niên của dân chúng và công nhân đã bộc lộ rõ rệt qua việc phong tỏa, tạm dừng các hoạt động kinh tế để chống dịch Covid-19 suốt 2 năm qua. Nhiều người dân và công nhân bị đói, cần sự trợ giúp của người khác.

Tức là mấy chục năm “phát triển kinh tế” không tạo ra được một hệ thống an sinh xã hội bền vững, một số đông dân chúng không có tích lũy.

Việc không có tích lũy này không thể bị đổ thừa rằng “do người dân hoang phí”, mà là do sự duy trì đồng lương chết đói để hấp dẫn đầu tư, là chính sách thuế thất bại, không tái phân phối được của cải cho những thành phần dân chúng bị thiệt thòi.


Do đó khi phong tỏa nhiều tháng để chống dịch Covid-19, hệ thống an sinh xã hội bên ngoài lãnh vực công trong suốt 30 năm qua lộ rõ là con số không to tướng. Nếu không nhờ ở lực cứu trợ tự phát trong lạnh vực tư suốt 3 tháng 8, 9 & 10/2021 thì hơn 3 triệu công nhân lao động tực khó mà đũ sức bỏ chạy khỏi Sài Gòn và Bình Dương để vế quê tỵ nạn phong tỏa kinh tế của nhà cầm quyền CSVN.


Công nhân gốc nông dân ly hương và đã phải hồi hương bằng những dòng xe gắn máy của những người kiệt sức từ Sài Gòn bỏ chạy về quê, chứng tỏ rằng, đã không có một lớp công nhân chuyên nghiệp có thể an cư ở các thành phố và khu công nghiệp lớn, mà chỉ là những đám đông nông dân bám vào các khu ổ chuột để bán rẻ sức lao động giản đơn của mình.


Nếu các dòng xe gắn máy này có thể được thông cảm thì việc nó xuất hiện trong cuộc khủng hoảng Covid-19 suốt 3 tháng 8, 9 &10/2021 nói trên, không có cách giải thích nào hơn là chính sách công nghiệp hóa theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) của VN đã thất bại. Đại dịch cúm Vũ Hán tại VN chính là giọt nước đã tràn ly cho việc đeo đuổi nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Bởi vì “xã hội chủ nghĩa” là một cái gì mà nhân loại chưa định hình được, vậy thì nó làm sao để có thể định hướng nền kinh tế thị trường?

Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung không tưởng. Bởi vì kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản và không thể nào dung hợp được với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học, công nghệ, văn hóa…


Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với thế kỷ 20.


Tuy nhiên nền “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” tại VN thì đang đối diện với cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0).


Kinh tế suy thoái đã phơi bày sự thật của những bất công xã hội, đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu–nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa giàu nghèo.


Sự thật này gây khó khăn lớn nhất cho công nhân lao động vốn là thành phần tạo dựng sức mạnh cho kinh tế VN.

Sai lầm lớn nhất khi đeo đuổi học thuyết nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là không tin tưởng tư nhân, công nhân và xã hội dân sự mà chỉ tin tưởng vào đảng viên ĐCSVN.

Chẳng hạn như trong công cuộc chống dịch, việc trao bớt quyền cho lĩnh vực tư nhân và các tổ chức xã hội vẫn sẽ tốt hơn rất nhiều việc cấm đoán và tốn thêm nguồn lực công để kiểm soát sự tuân thủ, trong khi những nhu cầu chính đáng của xã hội lại không được giải quyết.


Để đáp ứng duy trì cuộc sống thường nhật cho thành phố hơn 10 triệu dân như Sài Gòn, hệ thống phương tiện hậu cần phải bao gồm hàng triệu xe máy, hàng trăm nghìn taxi, xe buýt và xe tải lớn nhỏ. Ngoài ra còn thêm lượng tàu bè, xuồng ghe từ đồng bằng sông Cửu Long và vô số các phương tiện vận tải thô sơ không tên khác. Dịch bệnh xảy ra, hầu hết công nhân điều hành các phương tiện nầy bị buộc phải dừng hoạt động.


Tại các đô thị, các biện pháp ứng phó mỗi khi có thiên tai địch họa có thể tác động tiêu cực đến những lĩnh vực khác, trong đó có hệ thống lương thực thực phẩm. Nó cho thấy:

Công nhân lao động tại VN là thành phần thiệt thòi nhiều nhất do các lệnh phong tỏa, đóng cửa, giới nghiêm, xét nghiệm, cách ly, hạn chế đi lại để ...chống dịch cúm Vũ Hán 2019.

(Còn tiếp)