Dệt may với cơ hội từ EVFTA: Những việc phải làm ngay


Ảnh minh họa (Nguồn: Vifutex)

Tin tổng hợp: EVFTA có thể là cơ hội để Việt Nam định hướng và cơ cấu lại thị trường xuất khẩu dệt may, giảm phụ thuộc đầu vào từ thị trường Trung Quốc và thay đổi sự tập trung đầu ra vào thị trường Mỹ.


Bình thường hay thận trọng ? Việc Quốc hội có thể sẽ phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU (EVFTA) vào ngày 28/5/2020 đã tạo nhiều hứng khởi cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, bắt đầu bằng lộ trình giảm thuế kể từ đầu tháng 8 tới. Tuy nhiên, Việt Nam xem xét phê chuẩn EVFTA trong bối cảnh ngành thời trang châu Âu đang rơi vào khủng hoảng tài chính, thị trường ghi nhận rất nhiều đăng ký phá sản. Tại thị trường Anh, các thương hiệu như Finigans, Freemont, đã đăng ký hồ sơ xin công bố khó khăn tài chính, thậm chí xin phá sản.

“Mức độ tiêu dùng sẽ nhỏ giọt hơn rất nhiều so với trước đại dịch. Xu hướng này không chỉ của năm nay mà còn kéo sang năm 2021”, Denis Gouttenoire, Chuyên gia Chương trình Xúc tiến nhập khẩu Thụy Sỹ (Sippo) nói và cho biết: “Nhiều nhà mua hàng nói rằng chưa thể biết người tiêu dùng sẽ mua loại hàng hóa nào”.

Những hành vi điều chỉnh của người tiêu dùng, theo Denis, sẽ dẫn tới sự điều chỉnh của các nhà mua về chính sách mua hàng. Họ sẽ tìm kiếm những nhà cung cấp đáp ứng tốt hơn các giá trị về môi trường và trách nhiệm xã hội.

Linh hoạt, khả năng thích ứng và minh bạch là những yếu tố các nhà mua hàng kỳ vọng ở các nhà cung cấp, đồng nghĩa với việc các nhà cung ứng phải linh hoạt hơn, sáng tạo hơn, giao hàng nhanh hơn và đáp ứng được các yêu cầu của cả những đơn hàng nhỏ, Denis khuyến cáo.

Những việc phải làm ngay

EVFTA nếu có hiệu lực vào tháng 8 tới, phía EU sẽ lập tức dỡ bỏ 85,6% số dòng thuế, giúp tăng năng lực cạnh tranh cho 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này. Tuy nhiên, lợi ích từ hiệp định thế hệ mới này sẽ không đến sớm với ngành dệt may.

Quy tắc xuất xứ “từ vải trở đi” của EVFTA cũng là thách thức không chỉ trong ngắn hạn đối với ngành dệt may Việt Nam khi chưa có đủ vải chất lượng cao để sản xuất hàng xuất khẩu vào EU, trong khi nhập khẩu từ những quốc gia có FTA với EU như Hàn Quốc, cũng có hạn chế nhất định.

Hiện, 90% nguyên phụ liệu của dệt may Việt Nam đang nhập khẩu từ các nguồn không phải là thành viên EVFTA và không được ưu đãi cộng gộp của Hiệp định. Năm 2018, ngành dệt may nhập từ Trung Quốc lượng vải lên tới 7,1 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm 2017.

Trong khi đó, phương án mua vải trong nước cũng không khả thi. Việc doanh nghiệp phải trả thuế VAT 10% đã làm giá vải trong nước cao hơn giá vải nhập khẩu, trong khi những lợi ích về cắt giảm thuế quan của EVFTA lại chưa đủ bù đắp để có giá bán cạnh tranh so với các quốc gia khác cùng xuất khẩu vào EU. Với EVFTA, lợi thế cạnh tranh về thuế của các quốc gia cạnh tranh như Bangladesh, Campuchia, Pakistan sẽ không nhiều ý nghĩa. Đặc biệt với Campuchia, quốc gia có mức tăng trưởng kép mạnh nhất vào EU trong 5 năm qua, từ 2,8 tỷ USD năm 2013 lên 6,3 tỷ USD năm 2018, không tính Trung Quốc, cường quốc số 1 thế giới về xuất khẩu dệt may.

Thậm chí, Campuchia có thể sẽ chính thức bị loại khỏi chương trình ưu đãi thuế quan GSP từ tháng 8/2020 và thuế nhập khẩu hàng dệt may của Campuchia vào EU cũng sẽ tăng lại 12% do vi phạm một số nguyên tắc về theo quy định của EU.

Dù vậy, theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), Chính phủ Việt Nam cũng có nhiều việc phải làm ngay để ngành dệt may được hưởng lợi từ EVFTA:

Chính phủ cần sớm điều chỉnh quy hoạch đối với ngành dệt may, giai đoạn 2020-2040 do Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã “lỗi thời”, -Vũ Đức Giang.

Đến nay, Việt Nam vẫn đặt trọng tâm xuất khẩu vào thị trường Mỹ, chiếm tới 46% tổng xuất khẩu, một trong những lý do chính khiến ngành dệt may lao đao trong suốt 2 năm qua do liên tiếp chịu tác động kép, từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và Covid-19.

Với EVFTA, 100% các mặt hàng dệt may Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 8 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực theo 4 lộ trình: A, B3, B5 và B7. Cụ thể: - A: thuế quan được xóa bỏ về 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực; - B3: về -3%/năm, thuế được giảm dần đều trong vòng 4 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, từ mức cơ sở trở về 0%; - B5: về -2%/năm, thuế được giảm dần đều trong vòng 6 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, từ mức cơ sở trở về 0%; - B7: về -1.5%/năm, thuế được giảm dần đều trong vòng 8 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, từ mức cơ sở trở về 0%./.