• NBCN

Căn cứ xác định tiền lương, tiền thưởng và cách tính tiền lương làm thêm giờ cho người lao động


Để xác định tiền lương và tiền thưởng phải căn cứ vào bản chất và nguồn gốc hình thành quỹ tiền lương và quỹ tiền thưởng của doanh nghiệp để làm cơ sở tính tiền lương làm thêm giờ, cụ thể:

- Về tiền lương: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp và các khoản bổ sung khác theo thỏa thuận, được tính vào giá thành sản phẩm và được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh.

  • Những khoản chi từ quỹ lương của doanh nghiệp được tính để làm căn cứ trả lương làm thêm giờ cho người lao động theo quy định tại Điều 55 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ.

- Việc tính tiền lương làm thêm giờ phải căn cứ vào tiền lương thực trả của công việc đang làm để đảm bảo theo quy định của pháp luật.

  • Tại Khoản 1 Điều 98 Bộ luật Lao động quy định, người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

  • Khoản 3 Điều 111 Bộ luật Lao động quy định, nếu ngày nghỉ hằng tuần trùng với ngày nghỉ lễ, tết quy định tại khoản 1 Điều 112 của Bộ luật này thì người lao động được nghỉ bù ngày nghỉ hằng tuần vào ngày làm việc kế tiếp.

  • Khoản 3 Điều 55 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định, người lao động làm thêm giờ vào ngày lễ, tết trùng vào ngày nghỉ hằng tuần thì được trả lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết. Trường hợp làm thêm giờ vào ngày nghỉ bù khi ngày lễ, tết trùng vào ngày nghỉ hằng tuần thì người lao động được trả lương làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần.

- Về tiền thưởng: được trích lập từ lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đã thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Khoản tiền được trích từ quỹ khen thưởng để chi trả cho người lao động và chi các phúc lợi xã hội khác theo Qui chế của doanh nghiệp không tính vào tiền lương để làm căn cứ tính tiền lương làm thêm giờ cho người lao động.

- Cần phải xác định rõ tiền thưởng được trích từ quỹ khen thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Lao động và Điều 63 Thông tư số 200/2014/TT- BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp.

  • Tại Điều 63 Thông tư số 200/2014/TT- BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính, hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định: “... Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của doanh nghiệp để dùng cho công tác khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động”.

  • Tại Điều 104 Bộ luật Lao động quy định: “ Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động”.