Công đoàn cơ sở có hoạt động đúng nghĩa như một nghiệp đoàn hay không?

21/10/2020 11:22AM


Từ những tháng đầu tiên khi Việt Nam được xét kết nạp vào Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình dương( CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên Âu (EVFTA) đặc biệt sau khi Bộ luật lao động sửa đổi 2019 được Quốc hội thông qua cuối năm 2019, trong đó có nội dung người lao động được quyền thành lập Nghiệp đoàn độc lập hoạt động bên cạnh các công đoàn cơ sở trực thuốc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã xuất hiện một câu hỏi: Tại sao người lao động PHẢI THÀNH LẬP NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP trong khi đang có một hệ thống công đoàn hoạt động nhiều năm nay? Sự khác nhau về chức năng giữa hai tổ chức của người lao động kể trên ở chỗ nào?

Để trả lời câu hỏi “TLĐLĐVN có hoạt động đúng chức năng là một nghiệp đoàn của người lao động Việt Nam, theo đòi hỏi của EVFTA và CPTPP ( chiếu theo định chuẩn của ILO) hay không ?”; chúng ta phải so sánh cấu tạo, mục tiêu và hoạt động của nghiệp đoàn tại các quốc gia thành viên trong hai tổ chức thương mại tự do EVFTA và CPTPP (đồng thời là thành viên của ILO) với cấu tạo, chức năng và hoạt động của TLĐLĐVN.


I. Nghiệp đoàn theo định chuẩn của ILO


-Trong nền kinh tế thị trường tự do, các nghiệp đoàn do người lao động tự vận động thành lập, làm đại diện cho người lao động và hoạt động vì quyền lợi của người lao động. Vì nghiệp đoàn do người lao động tự thành lập để bảo vệ quyền lợi của người lao động nên mục tiêu của nó không tránh khỏi xung đột với mục tiêu của người sử dụng lao động và khi xung đột không thể giải quyết bằng thương lượng thì nghiệp đoàn có quyền tổ chức đình công. Ngoài ra, nghiệp đoàn luôn từ chối việc lợi dụng, lôi kéo của các tổ chức chính trị nhằm ủng hộ các tổ chức chính trị hoặc làm quần chúng cho các tổ chức chính trị để chuyên tâm vào mục tiêu cơ bản của tổ chức.


Cơ cấu và chức năng của nghiệp đoàn độc lập hoàn toàn đúng định chuẩn của Tuyên bố ILO. Cụ thể Điều 3.2-Công Ước 87 chỉ rõ:

  • Nghiệp đoàn cần phải thực sự độc lập, không chịu sự ảnh hưởng bất cứ đảng chính trị nào.

  • Nghiệp đoàn có thể dưới bất cứ hình thức nào, ở các quốc gia và các lục địa khác nhau nhưng đều có ba chức năng chính: 

  1. Đại diện cho người lao động để thương lượng thoả ước lao động tập thể với chủ nhân

  2. Cung cấp các dịch vụ và một số phúc lợi cho đoàn viên nghiệp đoàn.

  3. Tác động tới luật và chính sách có ảnh hưởng tới người lao động và đoàn viên nghiệp đoàn, bằng cách chủ động tham gia đối thoại xã hội ở cấp quốc gia, cấp ngành và cấp khu vực.

Còn Tổng liên đoàn lao động Việt Nam ?

  • * Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam mà tiền thân là Công hội Đỏ, Hội ái hữu v.v qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam, trước sau là một tổ chức quần chúng của đảng trong giới công nhân, TLĐLĐVN hoạt động theo Luật Công đoàn “ Là tổ chức nghề nghiệp chính trị, có nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. TLĐTĐVN công nhận vai tṛò lãnh đạo của Đảng đối với Công đoàn trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, và tham gia xây dựng Đảng. Đảng kiểm tra Công đoàn để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.

  • * Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện trách nhiệm của Công đoàn đối với Đảng, là tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chế độ chính sách và nghị quyết của Đảng đến với quần chúng công nhân, viên chức và lao động.

  • * Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có mối quan hệ với Nhà nước:

  1. Nhà nước luôn tạo cho Công đoàn về điều kiện vật chất, ban hành các văn bản pháp lý về hoạt động của Công đoàn. Giữa Công đoàn và Nhà nước không có sự đối lập.

  2. Hàng năm NNVN đã cấp 14.000 tỷ đồng cho 6 tổ chức : Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Đoàn Thanh Niên CS Hồ Chí Minh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, Hội Nông Dân và Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam.

  3. Ngoài tiền được cấp từ ngân sách nhà nước, TLĐLĐVN còn có một nguồn thu khác là 3% gồm : 2% do các doanh nghiệp phải đóng góp và 1% từ thu nhập của công nhân.

Lãnh trọn đa nhiệm vụ, chức năng như trên, công đoàn cơ sở thuộcTổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã xa rời mục tiêu cơ bản là bảo vệ quyền lợi cho thành viên. Từ năm 1990 đến năm 2016 đã có hơn 5.500 cuộc đình công, trung bình mổi năm có 211 cuộc đình công; trong năm 2017 có 314 cuộc đình công, năm 2018 có 214 cuộc đình công để công nhân giải quyết xung đột quyền lợi như tiền lương, định mức sản phẩm, định lượng bữa ăn trưa, thanh lý hợp đồng lao động v.v. với chủ sử dụng lao động. Tất cả đều là đình công tự phát, không do công đoàn tổ chức. Đó là một chỉ dấu rõ nhất cho biết công đoàn hiện hữu không thực hiện chức năng như các nghiệp đoàn mà EVFTA &CPTPP đòi hỏi.


Bằng cách gia nhập vào các tổ chức thương mại tự do đa phương và đơn phương, Việt Nam có tham vọng trong vài thập niên tới sẽ trở thành một nước công nghiệp tiên tiến. Đầu tư nước ngoài và trong nước sẽ tăng mạnh, lực lượng lao động sẽ tăng cùng tỉ lệ, xung đột lợi ích giữa người lao động và chủ sử dụng lao động cũng tăng, vừa đa dạng vừa sâu sắc. Bởi vậy việc thành lập nghiệp đoàn độc lập để giải quyết các xung đột trong thương lượng ôn hòa, cân bằng quyền lợi cho cả hai bên là cần thiết. Nó còn cần thiết vì yêu cầu nội tại và ngoại tại. Ngoại tại là đòi hỏi của CPTPP và EVFTA; nội tại là trong bối cảnh công đoàn hiện hữu còn phải đảm nhận các nhiệm vụ chính trị, nghiệp đoàn độc lập sẽ chủ động thương lượng để giải quyết xung đột với các chủ thể liên quan, giúp ổn định đời sống người lao động, ổn định sản xuất qua đó ổn định xã hội.

Nguyễn Hạnh

© 2020 Trang NHÓM BẠN CÔNG NHÂN

nghiepdoan@nhombancongnhan.com